Tôi táp xe máy vào vệ đường, ghé vào ngôi quán nhỏ nằm dưới gốc
cây Muỗm già xòe bóng mát. Sau hai chục cây số chạy xe giữa trời nắng to cũng
cần phải nghỉ ngơi chốc lát để còn tiếp tục cuộc hành trình, thành phố bây giờ
đã thực sự lùi lại phía sau lưng. Ngôi quán đơn sơ bán nước chè và những thức
bánh kẹo lặt vặt khác để phục vụ khách qua đường, được xây tạm bợ và lợp mái
tôn đủ để có thể che nắng che mưa. Chủ quán là một bà cụ trạc ngoại thất tuần,
vẻ mặt phúc hậu của người miền quê ít chịu ảnh hưởng cuộc sống xô bồ nơi phố
thị. Cụ mặc chiếc áo kiểu cũ màu xanh lơ mà người già thường hay mặc. Thấy tôi
vừa kéo ghế ngồi, cụ ôn tồn hỏi:
- Cháu uống nước chè nhé, hay nước ngọt?
Tôi trả lời cụ:
- Vâng, Bà cho cháu ấm trà.
Ly trà đặc có đá lạnh làm dịu đi cơn khát và cái nóng đang phả
hầm hập ngoài trời. Ngước nhìn cây Muỗm già đang vươn những tán lá rộng như
những chiếc Lọng tỏa bóng mát, tôi vừa châm điếu thuốc lá vừa hỏi cụ
chủ quán:
- Cây Muỗm này có khi cũng phải mấy trăm năm tuổi rồi cụ nhỉ?
Chẳng hay cụ bán hàng ở đây đã lâu chưa?
Nét mặt bổng trở nên đăm chiêu, sau khi têm miếng trầu bỏ vào
miệng nhai chóp chép, cụ chậm rãi:
- Bà ngồi bán hàng ở đây cũng đã hơn mười năm nay rồi, gọi là kiếm
chút ít để con cháu bớt khó khăn. Con đường này hồi trước nhỏ hơn bây giờ, vì thế
mà người và xe qua lại cũng ít. Từ hơn hai năm nay họ mở thành đường cao tốc
rộng lớn, xe cộ qua lại nhiều, không khí làng quê vì thế mà trở nên ồn ào sôi
động hẳn cháu ạ!
Tôi gật gù:
- Cụ ngồi đây bán hàng, nhìn người xe qua lại chắc cũng vui lắm?
- Tuổi già làm công việc này cũng bớt phần hiu quạnh, người xe
qua lại suốt cả ngày. - Cụ
trả lời tôi.
Ý chừng tôi là người dễ bắt chuyện, cụ hiền từ hỏi lại:
- Cháu đi đường qua hay lên trên này làm việc?
- Dạ, cháu lên đây làm việc, cơ quan cũng chỉ cách đây khoảng
chục cây số nữa.
Thấy cụ ngồi bán hàng một mình, tôi hỏi cụ về chuyện gia đình và
con cháu. Được biết rằng cụ có ba người con, hai người con trai đầu và cô gái
út. Cô con gái út thì mới lấy chồng xa năm ngoái. Hiện cụ đang ở với người con
trai thứ, nhà cũng ở trong làng này. Từ khi nhà nước cho xây dựng khu công
nghiệp gần đây, họ lấy đất nông nghiệp của dân rồi đền bù cho mỗi nhà có mấy
chục triệu bạc, số tiền này chẳng làm được gì. Đất đai ông cha để lại để mình
canh tác và nuôi sống gia đình từ xưa đến nay bổng dưng biến mất, người dân vì
thế mà trở nên thất nghiệp, cuộc sống khó khăn không biết bám víu vào đâu. Đây
cũng là lý do mà cụ mở ngôi hàng ở đây để đỡ bớt khó khăn, kiếm thêm chút thu
nhập. Rồi cụ chép miệng: “Vừa rồi đứa con gái út gọi điện về nói là đang vay
tiền để chạy đi xuất khẩu lao động, kiếm tiền nuôi gia đình. Chứ bây giờ ở nhà
mỗi người chỉ được một sào ruộng, trăm thứ trông vào đó cả, không đi làm thêm
thì chết đói. Nhưng rồi nó lại lo bị lừa như nhiều người trước đó, lắm cô gái
tiền mất tật mang, rồi bị họ bán cho các nhà chứa ở nước ngoài, ai may mắn thì
được làm ôsin cho nhà tử tế. Thời buổi này, muốn sống cho yên ổn và tử tế cũng
khó lắm chú ạ. Nhà nước họ nói hay thế nhưng chẳng lo được gì cho dân cả”.
Đôi mắt mờ đục của cụ già nhìn về hướng xa xăm, như tưởng nhớ về
miền ước vọng nào đó. Tội nghiệp cho cụ, ở cái tuổi cổ lai hy mà vẫn chưa được
nghỉ ngơi, vẫn phải lo lắng cho con cháu. Tôi rít một hơi thuốc vì cảm thấy bức
xúc với những gì vừa được nghe, vì thương và cảm thông cho hoàn cảnh của cụ.
Rồi tôi nói mấy câu động viên, mong cho cụ quên đi những phiền muộn. Chợt có
tiếng trẻ con sau lưng:
- Bà ơi, cháu mang đá ra cho bà đây.
Rồi thấy một đứa bé trai đội chiếc mũ lá cọ rộng vành, tay xách
chiếc xô nhựa đựng đá lạnh đi vào.
- Cháu bà ngoan quá, để xuống đây cho bà.
Nói rồi bà bảo nó ngồi xuống bên cạnh, vừa xoa đầu vừa đưa cho
nó chiếc bánh ngọt. Đứa bé ngồi tựa vào vai bà và cầm lấy bánh ăn ngon lành. Cụ
nhìn sang tôi và nói:
- Đây là con thằng thứ của bà đấy, cháu nó học lớp 6 rồi, ngoan
và nghe lời bà lắm!
Gió thổi những cành Muỗm đung đưa, cây cổ thụ đã ở đây và chứng
kiến bao biến đổi của vùng đất này, dường như nó nghe và hiểu biết bao nhiêu là
chuyện.
- À quên, bà chưa trả lời cháu về cây Muỗm! – Tôi sực nhớ ra.
Dường như cây Muỗm gợi cho cụ một ký ức buồn, tôi thoáng thấy cụ
lén đưa khăn lên chấm nước mắt. Nhưng rồi trước mối quan tâm thành thực của
tôi, và có lẽ thấy tôi là một người biết nghe và hiểu chuyện, cụ bắt đầu kể
bằng một giọng đều đều như hồi tưởng:
“Nếu cháu muốn nghe thì
bà sẽ kể. Cây Muỗm này gắn liền với cuộc đời bà, nó gợi nhớ những tháng ngày
đau thương nhất của gia đình cháu ạ. Theo như những người đi trước kể lại thì
nó cũng đã hơn ba trăm năm tuổi rồi. Từ khi bà còn nhỏ thì thấy nó đã đứng ở
đây, cao lớn lừng lững. Ngày xưa bà cùng lũ trẻ trong làng thường ra đây chơi
và nhặt những trái Muỗm rụng xuống lộp bộp quanh gốc cây. Và đây là chỗ tụ tập
vui chơi ưa thích của lũ trẻ con trong làng…”
Cụ im lặng một lúc, lấy tay quệt nước trầu ở khóe miệng rồi kể
tiếp:
“.. Nhưng rồi cái ngày
khủng khiếp ấy đã đến, ấy là ngày mà đội cải cách ruộng đất về làng. Cả làng
sống trong không khí lo sợ và hoang mang. Uỷ ban cải cách và thành phần đấu tố
thì họp bàn rôm rả ngoài đình, ban đêm họ đỏ đuốc tụ tập như là sắp có cuộc mổ
Bò mổ Trâu vậy. Mọi người lo lắng và nghi ngờ lẫn nhau, thông tin cho biết là
mấy làng bên vừa xẩy ra cuộc đấu tố, mấy người đã bị xử bắn. Không khí trong
nhà bà lúc ấy thì như có đám đang, bố bà hết đứng lại ngồi. Ông đi đi lại lại
trong nhà như là có ma ám vậy. Gia đình bà không thuộc thành phần Địa chủ bóc
lột, nhưng có nhà ngói, nhiều Trâu và ruộng vườn. Vì vậy trở thành đối tượng mà
uỷ ban cải cách nhắm tới trong đợt đấu tố này. Bà lúc ấy thì còn bé lắm, cũng
chỉ khoảng mười mấy tuổi. Nghe bố mẹ bàn với nhau rằng: Gia đình mình có bóc
lột ai đâu mà sợ, ruộng vườn là do công sức mình khai phá mà có. Ông thì cũng
thành phần nông dân như người ta, có chức sắc gì đâu mà bị đấu tố? Nghe mẹ nói
vậy, bố của bà cũng yên tâm và không lo lắng nữa. Đùng một cái họ cho dân quân
vào bắt ông ra giam ngoài đình, nói ông là thành phần địa chủ bóc lột, vì vậy mà
cần đào tận gốc trốc tận rễ. Mẹ bà vì lo lắng và xấu hổ với xóm làng mà lăn ra
ốm liệt giường, thuốc thang gì cũng không thấy khỏi cả.
Rồi cái ngày đấu tố cũng
đến, bố bà cùng hai người nữa trong làng bị họ bêu rếu và nhục mạ đủ điều. Bị
quy cho toàn là tội mà ông không có, vì vậy mà từ một người chí thú làm ăn nay
ông trở thành kẻ phản quốc đại gian đại ác. Sau cuộc đấu tố họ lôi cả ba người
ra trói ở ngay gốc muỗm này, phơi nắng họ cả buổi. Đến chiều đội cải cách tập
trung mọi người trong làng lại để xem xử bắn, cuộc hành hình mà họ đã tuyên án
từ sáng nay. Bà cố gắng vạch đám đông để tiến lên phía trước, mong được nhìn
thấy cha mình. Bà thương cho bố cả ngày hôm nay không được ăn uống gì, mà lại
bị họ hành hạ như vậy. Rồi những tiếng súng nổ vang, bà thấy thân thể mấy người
rung lên rồi máu chảy xuống nhuộm đỏ cả gốc cây Muỗm. Chung quanh có nhiều
người đưa tay bưng mặt và nhiều tiếng khóc nấc lên. Bà thì vừa sợ vừa bị chen
lấn mà xỉu đi không còn biết gì nữa, đến khi tỉnh lại thì thấy đang nằm ở nhà,
thì ra mấy người trong xóm đã đưa bà về vì thương cảm”.
Cụ lại lấy khăn chấm nước mắt, tôi quay mặt đi vì cảm thấy mình
có lỗi khi vô tình đã gợi lại ký ức đau buồn của cụ. Đứa bé thấy bà khóc thì
ngước đôi mắt ngây thơ lên nhìn, nó còn bé nên chẳng hiểu gì cả.
