Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Rối loạn Triều Đình


Bà lão ngồi xuống ghế, bỏ cái nón lá ra khỏi đầu rồi bắt đầu kể lể, nước mắt vòng quanh:
- Khổ lắm cô ơi! Mấy bữa trước họ cho xe ủi và công an, dân phòng đến phá bỏ nhà của tôi và mấy nhà xung quanh rồi. Còn chú em tôi và một nhà nữa đang cố bám trụ, họ nói là hôm nay cũng sẽ giải tỏa nốt. Vợ chồng tôi đã già, bây giờ phải soạn đồ đạc đến ở nhờ chỗ đứa cháu họ. Ông lão nhà tôi sức yếu, lại bị rối loạn Triều Đình (Rối loạn tiền đình), nên thi thoảng lại choáng và ngất, phải cấp cứu suốt đó cô...
Đến đây bà ngẹn ngào mà không nói được nữa, bưng mặt nức nở. Cô Xuân thương cảm, cầm tay bà lão an ủi:
- Thôi! Bà cũng đừng buồn nữa mà nhỡ ốm ra thì khổ. Còn giữ sức khoẻ mà chăm sóc ông chứ. Đằng nào việc cũng đến rồi, mình không thể làm khác ngay được. Biết là cái sự nó vô lý như vậy, nhưng thời buổi này nhiễu nhương. Chắc là phải có thay đổi thôi bà ạ. Không lẽ ông trời cứ để kẻ ác hoành hành mãi?...
Nghe những lời động viên, bà lão đã có phần nguôi ngoai, lau nước mắt rồi nói:
- Còn nhà chú em không biết ra sao. Họ nói là hôm nay sẽ cưỡng chế. Bây giờ tôi phải đến đó để xem thế nào cô ạ...
Nói rồi bà hốt hoảng đứng dậy, cắp nón le te đi ra, khiến cô không kịp khuyên can gì cả. Cô Xuân ái ngại nhìn theo cái dáng tội nghiệp của bà lão, trơ trọi như chiếc lá vàng bé nhỏ trong bão táp cuồng phong.
Bà lão với cô Xuân là chỗ đi lại thân tình. Có chuyện gì bà cũng đến đây tâm sự, như để trút bỏ nổi lòng. Chuyện gia đình, chuyện xóm làng, bà đều đem nói với cô. Nhà bà lão ở thôn dưới, đi bộ chừng dăm phút thì đến nơi. Bây giờ chỉ có hai vợ chồng già ở với nhau. Ông lão - chồng bà – là giáo viên về hưu, còn bà thì vốn xưa nay ở nhà làm nghề nông. Ông bà có ba đứa con, giờ này đều sinh sống và làm ăn xa. Tháng trước nghe đâu nhà nước có chủ trương quy hoạch đất đai gì đó. Không may nhà ông bà và mấy hộ xung quanh bị rơi vào diện quy hoạch. Mọi người đều phản đối, không chịu nghe theo chủ trương. Vì cơ ngơi mấy nhà mặt đường đang bề thế, tự dưng bây giờ họ dẹp bỏ, rồi đền bù như kiểu là đất hoang vậy. Số tiền mà người ta tính cho mỗi hộ, bây giờ không đủ cất một cái chòi để ở, chứ đừng nói là mua đất mà làm nhà mặt đường như trước đây. Vì vậy mà người dân quyết tâm không chịu di dời. Thế rồi mấy bữa trước chính quyền cho xe ủi đến để cưỡng chế và giải tỏa. Ông lão vì xót của nên đứng ra phản đối, bị họ xô ngã mà ngất xỉu phải nhập viện. Tội nghiệp! Ông lão sức khỏe vốn đã yếu, lại bị chứng rối loạn Tiền Đình sẵn.
Khi bà lão đến khu cưỡng chế thì đã thấy người và xe đông ùn ùn. Máy xúc đã đậu ở đó đợi sẵn. Cảnh sát giao thông đang thổi còi toe toét để dẹp đường. Mấy tay dân phòng đeo băng đỏ, tay cầm dùi cui đi lại với vẻ mặt đầy sát khí. Công an mặc sắc phục đông lắm, đứng dàn đội hình như chuẩn bị đánh trận vậy. Người dân thì bu vào xem vòng trong vòng ngoài, bàn luận, chỉ trỏ.
Bà lão cố chen vào đám đông để mà chứng kiến sự việc. Lúc này mấy công an mặc sắc phục đang gỡ bỏ những chướng ngại vật do Thanh - cậu em trai bà - dựng lên trước nhà để ngăn cản cưỡng chế. Có lẽ sau công việc này, họ sẽ cho máy húc vào ủi sập ngôi nhà? Thanh đang vật lộn với mấy tay dân phòng, quần áo rách te tua. Anh cố vùng vẫy thoát ra, để mà xông vào đám công an. Vốn bị tật nói ngọng và lắp từ nhỏ, nên việc phát âm của Thanh rất khó khăn. Tuy nhiên trước việc ngôi nhà thân yêu của mình sắp bị người ta ủi sập, giờ đây anh nói nhiều hơn bao giờ hết.
Một tay thì vẫn bị đám dân phòng giữ chặt, tay kia anh chỉ vào đám công an mà hét lên thất thanh:
- Túng mày nà...nà...một nũ ăn cướp nhá. Chủ tương một...một đằng, chúng mày đi nàm...nàm...một lẻo...
Người dân xung quanh, mỗi người một ý. Kẻ thì đồng tình, người phản đối. Lắm kẻ còn bưng miệng cười ngặt ngẽo vì cái tật nói lắp của khổ chủ.
Nhận thấy hai chiếc máy ủi rồ ga chuẩn bị lao vào nhà mình, khổ chủ vùng thoát ra được khỏi tay kẻ thừa hành mà lao lên phía trước. Vì gắng sức quá, lại trong cơn giận dữ tuyệt vọng nên anh bị ngã dụi xuống đất. Lập tức mấy công an nữa liền lao vào cùng hỗ trợ mà giữ chặt lấy. Bất lực giữa vòng vây, Thanh hét lên trong nước mắt:
- Tao nguyền rủa túng...túng mày. Một nũ...nũ...ăn cướp ban ngày!...
Anh hàng xóm cũng thuộc diện nhà bị cưỡng chế hôm nay, lúc này hoảng quá mà lao ra chặn đầu chiếc xe ủi, không cho nó tiến lên. Thấy tình hình diễn biến phức tạp, tay chỉ huy liền ra lệnh cho đám công an bắt hai anh chủ nhà lại, còng tay và tống lên xe ô tô chờ sẵn. Hai người vùng vẫy la hét và chửi bới ầm ỷ. Xót ruột vì thấy chồng bị còng tay giải đi, chị vợ anh Thanh liền nằm lăn đùng ra đất mà gào lên thảm thiết:
- Bớ làng nước ơi! Nhà nước ăn cướp! Nhà nước bắt dân...
Đám đông lúc này, từ chỗ vô cảm ban đầu, nay có nhiều người thương cảm mà sụt sịt khóc. Người ta thì thầm với nhau: “Phá nhà người ta , rồi còn bắt người nữa. Lạ nhỉ?”. “Mà đền bù kiểu gì vậy, như là cướp không à”. “Đang có nhà cửa đàng hoàng, bây giờ thành ra vô gia cư. Rõ tội nghiệp!”...
Chiếc xe ô tô chở hai khổ chủ rồ ga chạy mất, xả khói đen vào đám đông đang ngơ ngác, hoang mang. Liền lúc đó hai chiếc xe ủi rồ ga lao vào, căn nhà đổ sụp lẫn trong đám bụi mù mịt. Tiếng la hét của gia chủ chìm đi trong âm thanh của động cơ gầm rú.
Chừng một tháng sau. Bữa nọ cô Xuân đang ngồi bày cho đứa cháu học bài, thì thấy bà lão tìm đến, miệng hớt hải:
- Nguy rồi cô ơi! Chỗ đất cũ nhà tôi, bây giờ đang làm dự án xây dựng khách sạn Mini, do tay cháu ruột của lão bí thư làm chủ đầu tư. Ông lão nhà tôi hay tin, uất quá mà ngất đi. Lại bị rối loạn Triều Đình rồi...

Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Diêm Vương bắt Lính


Đà Sơn vốn là một vùng đất đai trù phú, phồn thịnh quanh năm. Vùng này có 3 thôn kề nhau, nằm dọc con sông Cả, kéo dài đến tận đồi Mưng. Cư dân chủ yếu làm nông nghiệp và đánh cá ven sông. Đồi Mưng thoai thoải, cây cối rậm rạp mọc lan cả ra bờ sông. Trên đó có một ngôi đền cổ, được xây dựng cách nay đã hơn 300 năm, để thờ vị thần trấn giữ vùng này. Vì vậy mà người ta vẫn quen gọi là đền Mưng. Gần đến đồi thì nhà cửa thưa thớt dần, phần vì hoang vu, phần vì cái vẻ linh thiêng của khu đền.

Khoảng những năm 1980, khi đó Đà Sơn không hiểu có nạn dịch gì mà người bị bệnh chết rất nhiều. Xóm làng hoảng loạn, ai nấy đều lo sợ hoang mang. Số người chết toàn là thanh niên trai tráng cả, độ mười tám đôi mươi. Người ta đồn dưới âm phủ có chiến tranh, vì vậy mà Diêm Vương bắt lính để nhập ngũ. Nhà nào có con trai một thì phải gửi đi ở nơi khác, đợi cho hết nạn dịch thì mới dám đón về.

Bấy giờ không khí tang tóc bao trùm, cờ đám ma dựng khắp làng trên xóm dưới, tiếng khóc nỉ non. Khu nghĩa địa thấy toàn những ngôi mộ mới đắp, cỏ chưa kịp mọc. Các cụ cao niên bèn tập hợp nhau lại để bàn chuyện cứu dân vùng Đà Sơn. Họ sắm sửa lễ vật mang lên đền Mưng cúng tế, mong thần thổ địa ra tay phù hộ cho người dân tai qua nạn khỏi.

 Khi mà người ta đang hy vọng vào sự linh ứng của thánh thần thì tai nạn lại ập đến. Thêm một thanh niên trong làng, buổi trưa đi nắng về nóng quá rồi tắm, thế rồi tự dưng lăn đùng ra ốm mà chẳng thuốc thang gì chữa được. Mấy ngày sau thì người bệnh qua đời.

Chẳng có sự trợ giúp khoa học nào, người ta tự phổ biến những kinh nghiệm dân gian để chống lại ma quỷ. Họ khuyên nhau không được tắm vào lúc giữa trưa hay ngồi dưới bóng râm. Vì như thế sẽ bị quỷ dưới âm phủ bắt đi. Hoặc nửa đêm về sáng, nếu có nghe tiếng ai đó gọi khẽ tên mình thì đừng có thưa. Nếu trả lời thì coi như đã bị Diêm Vương gọi, hồn sẽ lìa khỏi xác. Vì thế mà mùa hè trời nắng, đi đường dù có nóng đến mấy thì người ta cũng không dám ghé vào gốc cây ngồi nghỉ. Buổi tối trong lúc đi ngủ, cũng sợ vô tình mà trả lời tiếng gọi của ai đó chăng?

Có nhiều chuyện lạ liên tiếp xẩy ra trong thời gian này, khiến cho không gian dường như đặc quánh lại vì ma mị.

Giữa ban ngày ban mặt, nhiều người khi đi qua cây Muỗm đầu đình thì cứ nghe thấy tiếng trẻ con cười khanh khách trên đó. Lắm người còn bị đứa trẻ ném cả quả muỗm vào người. Cây muỗm cổ thụ, nhìn lên chẳng thấy gì ngoài cành lá rậm rì đung đưa. Có người tinh mắt thì khẳng định rằng, lúc nhìn lên cây thì thấy có hai đốm mắt rất sáng giống như của con Chồn hay Cáo vậy.

Ở thôn Tây có cụ Mẫn làm nghề đánh xe Bò, hằng ngày vẫn đi chở đất đá thuê cho người ta. Bữa nọ khi cụ đánh xe về đến nghĩa địa thì trời đã tối, chợt thấy một thanh niên đứng ở bên đường xin đi nhờ. Điều lạ lùng là, từ khi cậu thanh niên ngồi lên thì chiếc xe bò tự nhiên nặng chịch, cứ đi chậm như rùa.

 Cụ quay lại hỏi:

- Nhà cháu ở đâu?

Cậu thanh niên trả lời:

- Cháu là Trung, con Bố Thắm ở xóm Đông, nhà cháu ở cuối xóm đó.

Cụ gật đầu ra chiều đã nhớ, chứ lũ trẻ con mới lớn lên sau này thì chẳng thể nào mà biết hết được. Cụ lại hỏi:

- Vậy chứ cháu đi đâu về mà đứng đây một mình vậy?

- Cháu đi lính, cụ quên rồi sao? Bữa nay nhớ nhà quá nên cháu trốn về ít hôm.

Xe đi đến cuối khu nghĩa địa thì tự dưng nhẹ bổng như mây. Cụ Mẫn quay đầu lại toan hỏi nữa thì không còn thấy cậu thanh niên đâu. Trong lòng hoang mang, cụ cứ bóp trán suy nghĩ mãi. Một lúc mới giật mình mà nhớ ra rằng, cậu bé lúc nãy đã mất cách đây ít hôm. Đúng như lời cậu ta nói, nhà ở cuối xóm Đông, bố tên là Thắm. Khi nó mất, cũng được người ta chôn ở nghĩa địa này.

Từng là khu dân cư trù phú, giờ đây Đà Sơn như một vùng đất chết vậy. Ban ngày người đi lại thưa thớt, tối đến thì cửa đóng then cài. Đâu còn cái vẻ đông vui tấp nập trước đây. Khu đồi Mưng vốn vắng vẻ, nay lại càng hoang vu hơn. Người ta nhìn lên ngôi đền, thầm trách thần thổ địa đã không ra tay cứu độ dân làng. Nhưng họ cũng chỉ nghĩ trong lòng vậy thôi, chứ nào dám nói ra lời. Vì thần linh bao giờ cũng có cách giải quyết riêng, người phàm trần đâu có thể hiểu và biết trước được.

Gần bờ sông Cả, có một người chuyên sống bằng nghề vớt vó. Cuộc sống tháng ngày cơ cực, đúng như câu “Thân cò lặn lội bờ sông” vậy. Ông ở đây một mình, chẳng có vợ con gì cả.

 Tối nọ ông lão lân la vớt vó ở khúc sông dưới chân đồi Mưng. Kể ra cũng liều lĩnh, thời gian này thậm chí ban ngày người ta cũng không dám đến gần khu đồi nữa là. Nhưng vì lúc này cá ở những đoạn sông khác đã ít đi, trong khi chỗ này lại có nhiều do xưa nay không ai đánh bắt. Vớt một lúc mà chẳng được gì cả, nên ông liên tục chuyển chỗ. Bổng dưng  trời đột nhiên nổi mây vần vũ, kèm theo những tia chớp nhì nhoằng. Ông lão nhìn lên trời và được chứng kiến một cảnh tượng kỳ lạ. Trong ánh chớp sáng lòa, những đám mây có hình thù giống như một đoàn quân đang diễu hành ra trận. Sấm ì ùng nổi lên tựa tiếng trống trận trầm hùng. Cảnh tượng cứ như thế diễn ra trong vòng vài phút.

Chợt nghe một tiếng “bủm” dưới nước, tưởng là có cá ông liền nhấc vó lên, nhưng lưới trống không. Thất vọng, ông lại chuyển đi chỗ khác. Lần này lại có tiếng “bủm” vang lên, như là có người nào cố tình ném vật gì đó xuống nước để mà đuổi cá đi vậy. Mãi mê vớt vó, ông lão quên rằng mình đã di chuyển đến sát dưới chân đồi Mưng.

Lần này chờ thật lâu ông mới nhấc vó lên, thấy lưới nặng chịch. Khấp khởi mừng thầm vì chắc mẫm có nhiều cá. Vừa lúc đó thì một tia chớp loé lên sáng loè, soi rõ mọi thứ. Ông lão hoảng hồn, vì trong lưới không phải cá mà là một cái đầu lâu người. Sợ hãi, ông hắt trả cái đầu lâu kia xuống sông, không hiểu sao nó cứ bám chắc vào lưới. Ông đành phải kéo lên bờ để gỡ ra. Lúc này lại thấy trong vó có vật gì đó lấp lánh, giống như một tấm thẻ được sơn son thếp vàng. Cho là điềm lạ mà thần linh muốn mách bảo, ông không ném trả cái đầu lâu xuống sông nữa, cứ để vậy mà cuốn vó mang về.

Sáng hôm sau, ông lão mang cái đầu lâu và tấm thẻ kia ra cho dân làng xem. Sau khi xem xét kỹ, một cụ trong đám cao niên giải thích:

- Đây là thẻ bài Vua ban. Người này là một vị tướng quân.

Ai cũng lạ lùng kinh ngạc. Các cụ già khác thì bóp trán suy nghĩ rất lung. Ông lão vớt vó nói thêm:

- Dường như có thần linh mách bảo, khiến tôi cứ chuyển chỗ mãi, cho đến khi vớt được cái đầu lâu và tấm thẻ này.

Một cụ khác chậm rãi:

- Có thể đây là di cốt của vị tướng quân trong truyền thuyết. Ngày xưa tôi được nghe các cụ kể lại. Vào đời nhà Lê, vùng này có một vị tướng quân tham gia khởi nghĩa chống giặc Minh. Vị tướng đó đã hy sinh, thi thể bị quân giặc ném xuống sông Cả, và trôi dạt đến đây chăng?...

Mọi người đều cho là chủ ý của thần linh, bèn bàn nhau chọn một chỗ đất tốt mà chôn cất di hài. Các cụ cao niên lại rước linh vị tướng quân lên thờ tại đền Mưng, để quanh năm nhang khói.

 Đà Sơn từ đó hồi sinh. Bệnh dịch hoàn toàn biến mất như chưa từng hiện diện nơi đây vậy. Chuyện Diêm Vương bắt lính cũng không còn xảy ra nữa. Ba thôn nhộn nhịp trở lại, cảnh vật vì thế mà sầm uất như xưa.

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Bóng ma bên thềm


 Hoan mãi miết đi men con đường đất gập ghềnh, chiếc đèn ắc quy trên tay tỏa ra những quầng sáng đỏ nhờ, lắc lư theo từng nhịp bước. Tiết trời mùa Thu, bóng tối đặc quánh như bủa vây lấy người và ngọn đèn bé nhỏ vào lòng đêm vô tận. Gió rít qua kẽ lá từng đợt, lạnh lẽo và thê lương. Đã gần 3 giờ sáng, lúc này anh phải đi nhanh để còn đến nghĩa địa cho kịp lúc bốc mộ mẹ. Hôm nay là ngày tốt, vì vậy phải tiến hành cho mọi chuyện được êm xuôi. Theo như lời thầy địa lý, giờ cát là từ 3 đến 4 giờ sáng.
Đã đến khu nghĩa địa, những đám cỏ ẩm ướt lành lạnh dưới chân người. Hàng phi lao cao lớn như những gã khổng lồ ma quái, im lìm đứng gác cho các linh hồn yên nghỉ. Hoan ghé vai đặt cuốc và cái vên xuống đất, rồi vội vàng soi đèn để xác định vị trí ngôi mộ. Anh nhớ mộ mẹ nằm bên cạnh một cây ngô đồng cao ngang tầm đầu người. Khi tìm thấy cây ngô đồng, đồng hồ đã chỉ 3 giờ 15 phút. Thời gian gấp gáp lắm, chỉ có không đầy một tiếng đồng hồ để tiến hành công việc. Mọi thứ lại phải như lời thầy dặn, không được sai lệch chút nào.
 Hoan bắt tay ngay vào việc. Vì mãi đào bới mà quên đi cái lạnh về khuya, những giọt mồ hôi bắt đầu lấm tấm lăn trên má. Bấy giờ bốn bề chỉ còn nghe tiếng côn trùng rền rĩ, rờn rợn và hoang vu. Không gian nghĩa địa vì thế mà càng tăng thêm vẻ huyền bí mông lung. Bỏ toàn bộ hài cốt vào cái tiểu sành xong, Hoan mang sang ngôi huyệt đã đào sẵn từ mấy hôm trước để chôn cất. Chỗ này ở cuối khu nghĩa địa, cạnh con mương nước chảy róc rách. Khi công việc xong xuôi, anh nhìn đồng hồ: đúng 3 giờ kém 2 phút. Như vậy là mọi việc diễn ra suôn sẻ, đúng như lời thầy dặn. Quay lại ngôi mộ cũ, Hoan lấp đất lại cẩn thận rồi vác đồ đoàn lên vai mà đi về. Tuy mệt nhưng anh cảm thấy lòng thật thanh thản, vì đã làm tròn cái đạo hiếu của người làm con.
Khi về đến nhà thì trời hãy còn tối mịt, rửa tay chân ở vòi nước xong, Hoan mới đi vào gọi cửa. Vừa đến bậc thềm thì thấy một người đàn ông mặc bộ đồ trắng đang đứng đó. Tưởng bố mình vì sốt ruột mà chờ để hỏi chuyện mồ mả, anh cất tiếng hỏi:
- Bố có phải không?
Người kia không trả lời, chỉ đứng im lặng. Thấy lạ, Hoan bước lên thềm toan nhìn cho rõ thì lại không thấy gì cả. Tuy lạ lùng, nhưng anh cũng bình tĩnh mà gọi vợ ra mở cửa. Vừa vào trong nhà, chị vợ đã sốt sắng hỏi han công chuyện. Hoan trả lời cho vợ yên tâm, rồi ngồi xuống ghế châm lửa rít thuốc lào sòng sọc. Lúc này chợt thấy lòng bồn chồn, lại nghe như có tiếng người đi lại rì rầm ngoài hiên. Cảm thấy khác thường, anh mở cửa để xem có chuyện gì. Vừa bước ra ngoài, thì thấy bóng người lúc nãy vẫn đứng cạnh cây hoa Dạ Lan bên thềm mà nhìn anh chằm chằm. Đang toan hỏi thì lại không thấy người ấy đâu nữa. Cho là mình bị quáng mắt nên anh vào nhà, đóng cửa lại mà lên giường đi nằm. Nhưng rồi vẫn nghe tiếng bước chân ngoài thềm, kèm theo những âm thanh xì xầm như vọng về từ cõi hư vô. Tuy lòng cảm thấy lo sợ, nhưng vì mệt quá mà Hoan ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Liên tục mấy hôm như vậy, cứ tối đến thì lại thấy bóng người nọ đứng lấp ló bên thềm, cạnh cây hoa Dạ Lan. Hoan hỏi vợ có thấy người nào không, thì chị nói là không thấy ai cả. Vợ gặng hỏi thì anh im lặng mà không trả lời. Hoan có dự cảm rằng, cái bóng người kia chỉ muốn để cho mỗi mình anh biết mà thôi. Mọi người đến chơi, cũng không ai nhìn thấy gì.
Bữa nọ, trong giấc ngủ Hoan thấy một giấc mơ.
“Buổi sáng, Hoan đang ngồi uống nước và hút thuốc lào vặt - vốn là cái thú thường ngày của người làm nông như anh. Chợt thấy một cụ già bận bộ đồ trắng, chống gậy từ ngoài cổng đi vào. Khi đến chỗ cây Dạ Lan trước thềm thì người ấy dừng lại mà đứng thập thò ở đó. Nghĩ là một người ăn xin, anh hỏi:
- Quê cụ ở tận đâu vậy?
Người đàn ông trả lời:
- Nhà tôi ở xa lắm. Nhưng tôi biết mẹ của anh đấy, chúng tôi ở cạnh nhau...
Nghe vậy Hoan lấy làm ngạc nhiên, rõ ràng mẹ anh đã mất từ lâu, sao ông cụ này lại nói ở gần bà chứ?  Cho rằng người đàn ông nói như vậy là để kiếm cớ ăn xin, nên anh không trách mà còn mời vào nhà ngồi uống nước.
Hoan hỏi lý do vì sao ông cụ phải đi ăn xin, có con cháu gì không? Ông ta nhìn anh từ đầu tới chân, rồi cất giọng khàn khàn:
- Cách đây mấy hôm, có một kẻ đến phá nhà tôi, rồi đưa tôi đến ở nơi khác. Nhà mới không quen nên thấy khó chịu lắm, lại ở gần một con mương, chỗ đó có cái hang ếch. Suốt ngày tiếng nước chảy và ếch kêu khiến tôi không tài nào ngủ được. Tuổi già thì thích yên tĩnh, anh biết rồi đó. Bây giờ chỉ muốn quay về nhà cũ thôi...
Cảm thương cho ông cụ, anh hỏi:
- Ai mà lại phá nhà cụ như vậy? Bây giờ làm sao cụ có thể quay về nhà?
Người đàn ông trả lời:
- Kẻ nào bắt tôi đi thì phải đưa tôi trở lại. Nếu không tôi sẽ ám ảnh nó...
Nói xong chợt người đó vứt chiếc gậy, đứng dậy trợn mắt mà xông vào bóp cổ anh. Hoan sợ hãi chống cự, miệng thì ú ớ mà la hét cầu cứu.”
Chị vợ hốt hoảng lay gọi chồng, tỉnh ra mới biết là chiêm bao. Trở dậy bật đèn, uống chút nước cho tỉnh táo rồi Hoan kể lại giấc mơ cho vợ nghe. Chị ta lo lắng, cho là điềm ma quỷ chẳng lành, mới hỏi chồng trong lúc bốc mộ có động chạm đến mồ mả của ai không? Lúc này Hoan cũng cảm thấy chột dạ, mới liên tưởng đến sự việc mấy hôm nay. Cụ già trong giấc mơ kia có dáng dấp rất giống với cái bóng người mà mấy bữa nay anh vẫn thấy bên thềm nhà, cả cái giọng nói như vọng về từ cõi xa xăm cũng vậy. Tuy còn mơ hồ, nhưng anh cảm thấy mọi chuyện thật lạ lùng ma quái.
Hôm sau Hoan cùng mấy người nhà nữa đến nghĩa địa để kiểm tra lại công việc bốc mộ. Anh chỉ ngôi mộ đã được đào bên cạnh cây ngô đồng cho mọi người xem. Chợt một người hốt hoảng kêu lên:
- Thôi hỏng! Anh đào nhầm phải mộ người khác rồi...
Mọi người vội xúm lại xem, thì thấy mộ mẹ anh vẫn còn đó, chỗ bị đào lại là một ngôi mộ bên cạnh. Hoan lo sợ mà hồi tưởng lại, thì ra tối hôm đó vì vội vàng cho kịp giờ tốt mà anh đã xác định sai vị trí cần đào. Ngôi mộ bị đào lên cũng nằm cạnh cây ngô đồng nhưng lại chếch về phía tây một chút so với mộ của mẹ anh.
Gia đình lo lắng mời thầy về để xem lại ngày và cúng trừ tà. Sau khi lắng nghe câu chuyện, ông thầy xoa cằm ưu tư:
- Người đàn ông vẫn hiện hình bên thềm mấy bữa nay có lẽ là oan hồn dưới ngôi mộ đã bị anh đào bới. Nay gia đình hãy sắm sửa lễ vật và đồ vàng mã. Đợi sau khi anh đưa xương cốt trả về mộ cũ, tôi sẽ tiến hành cúng tế. Như vậy thì oan hồn được hoàn vị, hết bị khuấy động, sẽ không còn ám ảnh nơi dương thế nữa đâu...
 Hoan nhất nhất làm theo như lời thầy. Quả nhiên, từ đó không còn thấy bóng người đàn ông mặc bộ đồ trắng thấp thoáng bên thềm, cạnh cây hoa Dạ Lan mỗi khi đêm về nữa.

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

Tinh hoa xử thế


Lịch sử các thời đại thăng trầm, ngàn năm bụi mờ che phủ. Tinh hoa nhân loại vẫn như kim cương lấp lánh, tỏa sáng muôn năm. Biết bao giá trị văn hoá đáng cho hậu thế ngưỡng mộ, cũng nhiều lẽ ứng xử hay khiến ta phải không ngừng suy ngẫm.
Ở đời có nhiều kinh nghiệm tốt, cũng lắm phương châm chẳng hề dở chút nào. Cái lẽ ứng xử phải như nước chảy mây trôi, nhẹ nhàng mà uyển chuyển, không thể nào cứng nhắc được. Ai mà cứng nhắc và khuôn sáo, ắt là hỏng việc ngay. Kể cả chuyện chinh chiến ngoài sa trường cũng vậy, nó không đơn thuần là gươm đao và quân lệnh như sơn đâu. Tuỳ vào tương quan binh lực mà cân nhắc lợi hại, nếu quân địch khí thế mạnh mẽ thì ta nên tránh đi là hơn. Binh Pháp Tôn Tử có câu “Tẩu vi thượng sách”, kế này được liệt vào hàng cao kiến nhất đấy. Khi địch mạnh ta yếu, không có gì đúng đắn hơn là bỏ của chạy lấy người.
Cái sự tranh cãi cũng vậy, nếu đối phương đang nộ khí xung thiên, thì ta nên nhường nhịn cho qua cơn sóng dữ. Cổ nhân có câu “Nhịn một lúc sóng yên biển lặng, lùi một bước biển rộng trời cao”. Cứ đợi đến lúc đối phương hạ hoả rồi, ta sẽ nhẹ nhàng giải thích cho họ hiểu về chân lý sau. Nếu làm được như vậy, đảm bảo là biển luôn lặng sóng, trời sẽ mãi cao xanh.
Còn nhớ hồi nhỏ, lũ trẻ chúng tôi thường đến cắt tóc ở quán ông giáo Phương. Ông giáo đã già, giờ về hưu nên mở quán cắt tóc bên đường. Ông cắt rất nhanh, chỉ một loáng là đầu đứa nào đứa nấy nhẵn thín như quả bưởi. Nhờ thế mà đầu tóc trở nên mát mẻ, gọn gàng hơn trong mùa hè. Các bậc cha mẹ trong xóm đều tín nhiệm mà giao con cái cho ông cắt tóc, thành ra thương hiệu cũng không đến nổi nào. Cái nghề giáo trước đây chẳng mang lại tiếng tăm gì, giờ đây nhờ cắt tóc mà ông lại trở nên nổi tiếng, làng trên xóm dưới đều nức danh.
Bữa nọ lũ trẻ chúng tôi đang xôn xao xếp hàng chờ đến lượt ở hàng ông giáo. Chợt một bà làng bên, chẳng hiểu có ân oán gì mà tự dưng xông vào chửi ông té tát. Tôi không còn nhớ bà chửi những gì, chỉ biết  là toàn những lời rất khó nghe và mạt sát nặng nề. Thậm chí bà ta còn chỉ tay vào tận mặt ông giáo mà đay nghiến nữa. Tuy danh tiếng và sự tôn nghiêm bị tổn hại nghiêm trọng, nhưng ông giáo vẫn điềm nhiên cắt tóc, không hề đổi thay sắc mặt. Ông coi như không nghe thấy tiếng chửi, và cũng chẳng nói lại câu nào. Thấy đối phương chịu lép, bà già chửi một lúc thì chán mà bỏ đi. Ai cũng nghĩ như thế là xong chuyện. Nhưng khi bóng bà già chỉ còn là cái chấm nhỏ, thì bất ngờ ông giáo Phương nhìn theo mà cất tiếng chửi vang rền:
- Tiên sư nhà mày! Tao không thèm chấp là vì nói với cái loại vô học thì mất lời nhé. Mày thử nghĩ coi, thứ ngoa ngoắt vô học như mày thì có ai coi ra gì? Tao cũng chỉ xem mày như là một con chó ghẻ bên đường mà thôi!...
Ông giáo nói những lời đó với vẻ mặt giận dữ tột cùng, động tác phụ họa thì hùng dũng như Quan Vân Trường khi múa Long Đao vậy.
 Lũ trẻ chúng tôi lúc đó ngơ ngác mà chẳng hiểu gì cả. Chỉ có điều thắc mắc là, bà kia đã đi xa như vậy rồi, có nghe được gì nữa đâu mà ông giáo lại chửi? Tại sao ông không hơn thua lúc bà ấy còn ở đây? Sau này lớn lên thì mới luận ra rằng, lúc bà kia có mặt thì ông không nói lại, vì biết rằng chửi nhau với một người ngoa ngoắt thì thể nào mình cũng thua. Tránh voi chẳng xấu mặt nào mà. Ông lại chọn thời điểm khi đối phương đã đi xa thì mới chửi, vì biết chắc bà kia chẳng thể nào nghe được mà phản ứng lại. Đó cũng là giải pháp khôn ngoan và an toàn, ông tha hồ nói một cách rành mạch mà chẳng sợ bị ai lấn át cả. Kẻ nói thì phải có người nghe chứ. Vậy là bất kể nội vụ thế nào, trong mắt mọi người thì ông giáo vẫn là người đúng đắn và thắng cuộc. Đúng vì ông là người tự vệ, còn bà kia vô cớ xông vào mà chửi trước. Lại nữa, cả hai người đều được chửi như nhau, cũng chừng ấy người nghe cả. Chuyện đến đó là hoà. Nhưng thắng ở chỗ ông là người nói sau, vì thế mà được chốt lại vấn đề. Nhiều người nói ông giáo làm như vậy là vì sợ, còn tôi thì lại cho rằng sự ứng biến đó thật xứng với danh xưng “Tinh hoa ứng xử” vậy.
Tạm biệt ông giáo, chúng ta cùng đến với nhân vật khác cũng có phương châm ứng xử hay không kém. Cách đó hai thôn thì có một ông hay đánh tổ tôm, cứ đi hôm về tối suốt. Chuyện đánh bạc mất tiền đã đành, nhưng già cả rồi mà cứ đi đêm như vậy, nhỡ sẩy chân mà rơi xuống ao, xuống hố thì biết làm thế nào? Khuyên can mãi không được, bà vợ giận lắm, mới quyết một phen làm cho ông phải từ bỏ đam mê cờ bạc mới thôi. Từ đó, cứ buổi tối ông đi đâu thì bà theo đó, những lúc như vậy ông đành phải quay về nhà.  Dĩ nhiên là cũng sẽ có cách đối phó, ấy là nhân lúc bà không để ý thì ông lại lẻn đi đánh bạc. Một hôm sáng trăng, ông lại trốn bà mà đi như mọi khi. Trăng thanh gió mát, vừa đi bộ thung thăng vừa nghiền ngẫm nước đánh cho những ván bài sắp tới thì thật tuyệt. Vì vậy mà ông cứ vung vẫy mà đi như tiên ông đến dự hội bàn đào. Nào ngờ lúc này bà cũng đang lặng lẽ đi theo phía sau. Để bí mật, bà giữ một khoảng cách an toàn giữa hai người. Đến một khúc quanh thì thấy buồn đi giải, ông liền đứng lại để giải quyết nhu cầu. Vừa lúc đó thì thấy một bóng người lướt tới, ông giật mình hỏi lớn:
- Ai?
Bà lạnh lùng đáp:
- Tôi đây chứ ai? Khuya rồi mà ông còn định đi đâu vậy?...
Bị bất ngờ, nhưng ông nhanh trí nói ngay:
- Bà ...đó hử? Ta đi về nhà...bà nó... nhỉ?
Nói rồi ông ngoan ngoãn mà theo bà trở về, mặc cho cái chiếu tổ tôm với ánh đèn mê hoặc đang chờ ở phía trước.
Sở dĩ ông nhường bà là vì muốn giữ cái hoà khí, không để xẩy ra xung đột, vì bà cũng không phải là tay vừa. Thứ nữa, ông không đi tiếp là để khỏi lộ ra địa điểm chơi bài. Quyết định đó quả là rất sáng suốt và thông minh. Nếu biết được chỗ thì lần sau bà cứ đến thẳng đó mà lôi cổ ông về hoặc làm lu loa lên cho xấu mặt thì sao?
Người ta khó nhất trên đời là thắng được cái ham muốn bản thân. Đi bộ một quãng đường dài, khi chỉ còn cách chiếu tổ tôm có mấy bước chân mà vẫn phải nhịn để quay về. Chiến thắng được dục vọng như vậy, cụ ông nọ  cũng thật không phải hạng người tầm thường. Như thế là giữ cho mọi việc được êm đẹp mà không để xẩy ra bất hoà. Về mặt xử lý tình huống khẩn cấp, thì kể cụ cũng đã đạt đến cảnh giới cao rồi vậy.
Chéo sang phía Đông một làng nữa, có ông nọ cũng hay chơi tổ tôm. Bà vợ lại là người nổi tiếng dữ dằn, nên cả đời ông phải nhịn nhục, chỉ lấy cái thú đam mê tổ tôm làm lẽ sống ở đời. Nghi ngờ ông hay đi đánh bài đêm là có ý nhăng nhít với cô nào, bà vợ mới quyết làm một mẻ để ông chừa cái thói kia đi.
Bữa ấy ông lại đi chơi bài về khuya. Nghe tiếng gọi cửa nhưng bà nhất quyết không thưa, làm ra vẻ đã ngủ say mà không hay biết gì. Gọi mãi không được, sợ làm ồn hàng xóm nên ông đành nằm ngoài thềm đánh một giấc ngon lành. Sáng mai bà mở cửa, thấy ông đang nằm chòng queo, hai tay ôm chó mà ngủ say sưa. Miệng thì cứ chóp chép mỗi khi chú chó cúc liếm soàn soạt vào mặt.
Bài học xử thế của người đời thực là nhiều, kể sao cho hết được. Điều cốt yếu là lớp hậu sinh chúng ta phải chịu khó sửa mình, đặng mà học tập vốn cổ. Cách tốt nhất để những kinh nghiệm đó được lĩnh hội đầy đủ là nên tắm gội và trai giới mấy ngày trước khi nghiền ngẫm vậy. Vì khi thân thể thanh sạch, cái tâm thanh tịnh thì mới xứng đáng để mà đón nhận những tinh hoa xử thế cổ kim.