Khi những giọt
sương mai còn ướt đẫm trên đám cỏ nghĩa trang thì từng đoàn người tảo mộ
đã lục tục kéo đến. Họ mang theo cuốc xẻng và những vật dụng thiết yếu
khác cho việc tảo mộ. Chỗ thì đông đúc, nơi thì lác đác vài ba người,
nhưng tất cả đều làm việc với một vẻ trang nghiêm, kính cẩn. Những ngôi
mộ chưa xây thì người ta dùng xẻng để xẩy cỏ rồi đắp lên, ngôi nào đã
xây thì bấy giờ chỉ việc quét lên lớp vôi cho thêm phần tươi mới. Khi
việc chỉnh trang phần mộ đã xong, mọi người thắp hương và khấn vái.
Ngoài việc tảo mộ cho ông bà cha mẹ, thì người ta cũng không quên sửa
sang phần mộ tổ tiên.
Những công việc đơn giản đó được truyền từ đời này qua đời khác mà thành
phong tục đẹp. Con cái lớn lên cũng tiếp nối phong hóa cha ông cho đượm
vẻ nét xuân.
Hồi nhỏ tôi và anh
trai thường được Ba dẫn đi tảo mộ. Còn nhớ lúc đó tôi khoảng 11 – 12
tuổi gì đó, anh trai thì hơn mấy tuổi. Có chuyện này tôi chưa dám hỏi,
nhưng trong lòng luôn thắc mắc; ấy là việc tảo mộ dường như chỉ dành cho
đàn ông con trai, chứ chưa bao giờ thấy mẹ hoặc các chị gái được đi cả.
Vì còn bé nên cũng láng máng nhớ như vậy, những thắc mắc cũng qua đi để
rồi sau này lớn lên thì tự mình hiểu lấy. Điều mà Ba muốn chúng tôi
hiểu và chứng kiến là lòng thành kính với tổ tiên, sự hướng về nguồn
cội.
Con đường từ nhà
đến nghĩa trang mất khoảng 20 phút đi bộ, quanh co qua mấy đám ruộng và
ngôi làng. Tôi còn nhỏ nên lăng xăng chạy theo anh trai và Ba, tay thì
cầm cây chổi quét vôi hoặc vài ba tờ giấy để thắp hương. Trên đường đi
bao giờ cũng qua nhà cụ Xứng, cụ là học trò chữ Nho của ông Nội tôi ngày
trước. Ông nội thì đã mất khi tôi mới được 5 tuổi. Còn nhớ cụ Xứng
thường mặc áo dài đen, đầu đội mũ vải xếp chỉnh tề. Mỗi lần thấy Ba con
tôi đi tảo mộ qua, cụ lại đứng trang nghiêm bên hàng dậu Cúc Tần nhìn
theo mà hỏi:
- Anh và các cháu đi tảo mộ Thầy đó hử?
Ba tôi cũng kính cẩn đáp lại:
- Chào cụ, Ba con tôi đi tảo mộ cho ông đây!
Rồi Ba con tôi lại
tiếp tục đi, cụ Xứng vẫn kính cẩn đứng nhìn theo cho đến khi chúng tôi
khuất mới thôi. Trong làng lúc đó vẫn còn mấy người là học trò của ông
nội tôi, ai cũng ăn mặc như vậy, cách cư xử nền nếp của các cụ khiến cho
người ta nhớ mãi. Bây giờ nhớ lại mới thấy lễ giáo nho học xưa thật
đáng xem trọng. Truyền thống tôn sư trọng đạo đó khiến dễ cho người đời
sau khâm phục. Hình ảnh các cụ là đại diện cho một nền văn hóa mấy ngàn
năm của dân tộc còn được lưu giữ. Nay mấy cụ cũng khuất núi cả rồi,
nhưng nét đẹp một thời thì vẫn còn mãi với thời gian. Ôi, "...Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ?". (*)
Những lúc ấy, vừa đi tâm trí tôi vừa nhớ đến mấy câu thơ của Nguyễn Du mà mình thường thích đọc:
“...Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh...”
Tết Thanh Minh bên
Tàu lại nhằm vào tiết Thanh Minh, khoảng tháng 2 tháng 3 âm lịch, không
trùng với thời điểm tục Tảo Mộ bên ta.
Khi đến nghĩa
trang, tôi cùng anh trai giúp Ba phát quang đám cỏ và hoa dại mọc um
tùm, tu sửa lại phần mộ ông bà. Khi mọi việc đã xong thì Ba tôi thắp
hương rồi đứng khấn trước mộ. Tôi ngượng ngùng đứng chắp tay cạnh anh
trai, rồi sau đó cũng khom khom lưng để vái lạy. Sau khi thắp hương khấn
ông bà tổ tiên, thì bao giờ chúng tôi cũng dành mấy thẻ hương để
thắp lên những nấm mồ vô chủ cho đỡ vẻ hoang lạnh trong dịp xuân về.
Chúng tôi học được ở
Ba lòng thành kính với tổ tiên, sự biết ơn đối với nguồn cội, lòng
thương xót những con người cô khổ dù là họ đã ở thế giới bên kia. Bởi
vậy tục Tảo mộ không chỉ thể hiện lòng hiếu thảo của con người, mà còn
phù hợp với tinh thần nhân ái của người Việt ta.
