Đã hẹn với nhà
thơ Trần Đức Thạch từ lâu mà tôi vẫn chưa đi thăm được. Ngưỡng mộ cũng vì ông
là một người yêu nước, với những vần thơ khát vọng tự do - điều mà văn học nước
nhà vẫn hằng khắc khoải. Cũng bởi lẽ đó mà ông phải ngồi tù 3 năm, vì đã dám
cất lên tiếng nói sự thật bằng những vần thơ cháy bỏng. Vậy là thân phận nhà
thơ được khắc hoạ ngay giữa chốn đời, bởi một chế độ nhà nước kiểm duyệt văn
học nghệ thuật vào loại hà khắc nhất thế giới - chế độ Cộng sản. Vì đang thời
gian quản chế nên ông thuê một căn nhà nhỏ ở vùng núi miền tây xứ Nghệ, cách
nhà những 80 km để mà sống gần gũi với thiên nhiên. Vì vậy mà bạn bè hay những
người quan tâm đến nhà thơ, nếu muốn đến thăm thì phải vượt thêm chặng đường
dài này.
Tôi và anh bạn
khởi hành vào một sáng cuối Thu Quý Tỵ (2013), con tỉnh lộ 48 mới được mở rộng
khá tốt nên xe chạy bon bon. Cũng chỉ khoảng tuần nữa là lập Đông nên tiết trời
se lạnh, cho dù nắng vàng mật ong đang dát nhẹ và rắc đều lên không gian. Khung
cảnh trãi dần ra hai bên đường, xa xa nhấp nhô những ngọn núi xanh lơ. Tôi từng
có thời gian ngắn sống ở nơi này, cảnh cũ tình xưa khiến lòng bâng khuâng, cũng
đã lâu không thăm lại chốn xưa. Nhưng tâm trí lúc này lại nghĩ nhiều đến nhà
thơ - một bản lĩnh và phong cách sống khiến tôi hằng mến phục.
Vì là vùng đồi
núi nên ngoài những ngọn đồi trồng cây công nghiệp hay lấy gỗ như cao su, keo,
bạch đàn thì người dân ở đây cũng trồng thêm nhiều loại cây ăn trái để có thêm
thu nhập. Bấy giờ có lẽ đang mùa thu hoạch cam nên đồng bào bày ra bán hai bên đường
rất nhiều. Cứ một đoạn ngắn lại có những hàng cam sắp chồng lên nhau, trông xa
như những ngọn đồi nhỏ tròn trĩnh.
Gần trưa thì
chúng tôi đến ngã ba SL, nhớ lời nhà thơ dặn, tôi dừng lại và lấy điện thoại di
động gọi cho nhà thơ. Ông ra đón chúng tôi với trang phục giản dị, mái tóc dài
bồng bềnh trông rất nghệ sĩ. Rẽ vào lối nhỏ một đoạn thì đến nơi, ngôi nhà mà
ông đang ở thật đơn sơ, chung quanh là vườn rau thơm xanh mướt. Một nơi ở phù
hợp cho người thích ẩn dật, khung cảnh vắng vẻ yên bình. Nhà thơ vồn vã bắt tay
và ôn tồn hỏi thăm chúng tôi về chuyến đi, rằng chạy xe có mệt không và mất bao
thời gian. Vậy là cũng mất khoảng hai tiếng đồng hồ chúng tôi vượt chặng đường
dài hơn 70 km để đến thăm ông. Ông rất vui khi thấy tôi đến chơi, được cảm thông
và chia sẻ với những lý tưởng tốt đẹp mà ông đang theo đuổi. Tuy đã ngoại 60
nhưng tính cách nhà thơ còn rất trẻ và lạc quan, ông vừa nói vừa tươi cười:
- Các bạn cứ
coi ngôi nhà giản dị này như nhà mình, hãy ngồi chơi tự nhiên và chúng ta cùng
trò chuyện.
Cuộc trò
chuyện ban đầu thật ấm cúng thân mật. Ông kể cho chúng tôi nghe về khoảng thời
gian đầu mới ra tù, về tình cảm thân thương mà người dân dành cho mình, về sự
theo dõi giám sát của chính quyền địa phương. Hiện ra trước mắt tôi lúc này là
một con người quả cảm với nghị lực tranh đấu phi thường cho những giá trị nhân
bản tốt đẹp ở đời. Một con người dám sống thật với chính mình, dám nói thẳng
nói thật những điều mắt thấy tai nghe. Giờ thì tôi đã hiểu, tại sao ông lại bị
chế độ Cộng Sản cầm tù. Phong cách sống của ông có khác gì cái gai trong mắt
nhà cầm quyền, một chế độ nhà nước chỉ quen với sự phục tùng vô điều kiện của người
dân, quen với sự kìm kẹp tự do tư tưởng con người. Câu chuyện hoà vào tình đời,
tình người xao động. Tiếng chim chuyền cành líu lo ngoài song cửa vọng vào,
giữa khung cảnh yên bình, cảm thấy lòng mình thật nhẹ nhàng thanh thản.
Và rồi mãi trò
chuyện mà quên cả thời gian, lúc này người vợ yêu của nhà thơ mới nhẹ nhàng
nhắc nhở chúng tôi là đã đến giờ dùng bữa trưa. Tôi thầm vui cho hạnh phúc của
nhà thơ, tuy đang phải sống trong sự quản chế của một chế độ nhà nước hà khắc,
nhưng ông lại được người vợ trẻ hết mực yêu chiều. Hạnh phúc là vậy, có cần gì
nhiều, hạnh phúc là khi con người ta được là chính mình và sống giữa tình yêu
thương. Quả thực, ông là một con người may mắn, tôi thầm nhủ như vậy.
Nhìn mâm cơm
người vợ hiền mới bưng lên, ông lởi xởi:
- Mời các bạn
dùng bữa trưa với mình, chúng ta cứ có gì dùng nấy nhé...
Tôi tiếp lời:
- Đối với nhà
thơ, tinh thần là món ăn chính mà anh...
Rồi chúng tôi
cùng cười vang mà vui vẻ ngồi vào mâm. Bên những ly bia, câu chuyện đời lại
được tiếp nối như một mạch chảy không bao giờ dứt. Lúc này lại được chứng kiến
thêm một cái tài nữa của nhà thơ, ấy là đánh đàn Ghitar. Ông hát và chơi đàn
rất nhuyễn. Biết tôi lận đận về đường tình duyên, ông vừa ôm đàn gảy vừa hát
tặng tôi một bài hát về vòng nhẫn cưới thật xúc động. Và không để những chuyện
tình cảm làm lắng dịu không khí, tiếng đàn lại vang lên những điệu nhạc đấu
tranh cho dân chủ và nhân quyền. Chúng tôi vừa vỗ tay vừa hát theo nhà thơ, như
hoà cùng nhịp đập về nổi khát khao tự do dân chủ cho đất nước.
Cuối buổi, mọi
người cùng ra vườn rau thơm mà ông và vợ hằng ngày vẫn trồng trọt chăm bón để
chụp hình lưu niệm.
Lúc chia tay,
nhà thơ cùng vợ con ra tận cổng để chào từ biệt chúng tôi, không khí bịn rịn
thân thương. Ông trao tặng tôi tập thơ Điều chưa biết - do nhà xuất bản
Nghệ An ấn hành năm 2006.
Xiết chặt tay,
nhà thơ nói với tôi như một người bạn tâm giao:
- Lạc quan,
yêu đời, luôn hy vọng vào tương lai tốt đẹp. Đó là vũ khí của chúng ta, nó sẽ
khiến cho kẻ độc tài thất bại, và tự do sẽ chiến thắng.
Ngọn lửa niềm
tin ấm áp đó của ông truyền tiếp cảm hứng cho tôi về các giá trị tự do sẽ được
giải phóng trong tương lai. Trời đã về chiều, cơn gió lạnh miền sơn cước đang
ùa về làm lay động những khóm lá bên đường.
“Có một
truyền thuyết về một con chim chỉ hót một lần trong đời, nhưng hót hay nhất thế
gian. Có lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho bằng được mới thôi.
Giữa đám cành gai góc, nó cất tiếng hát bài ca của mình và lao ngực vào chiếc
gai dài nhất, nhọn nhất. Vượt lên trên nổi đau khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần
đi, và tiếng ca hân hoan ấy đáng cho cả sơn ca và hoạ mi phải ghen tị. Bài ca
duy nhất có một không hai, bài ca phải đổi bằng tính mạng mới có được. Nhưng cả
thế gian lặng đi lắng nghe, và chính thượng đế trên thiên đình cũng mỉm cười.
Bởi vì tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi ta chịu trả giá bằng
nổi đau khổ vĩ đại...; ít ra là truyền thuyết nói như vậy”. (*)
Đối với nhà
thơ Trần Đức Thạch, thì đó là tình yêu của ông với thơ ca nghệ thuật. Ông đã
cất lên tiếng thơ lòng một lần trong đời, và đã bị chính chiếc gai sắc nhọn của
chế độ độc tài cầm tù cùng với niềm tin sắt son vào tự do nghệ thuật.
____________________________________________________
- (*): Trích tiểu thuyết “Tiếng chim hót trong bụi Mận
Gai” của nữ văn sĩ Colleen McCullough.

